Sám giảng quyển ba
QUYỂN BA
SÁM GIẢNG
Đây là quyển thứ ba mà Đức Thầy
Đã viết năm 1939 tại Hòa Hảo (612 câu).
Ngồi trên đảnh núi liên đài,
Tu hành tầm Đạo một mai cứu đời.
Lan thiên một cõi
xa chơi,
Non cao đảnh thượng thảnh thơi vô cùng.
Hiu hiu gió thổi lạnh
lùng,
Phất phơ liễu yếu lạnh lùng tòng mai.
Mùa xuân hứng cảnh
lầu đài,
Lúc còn xác thịt thi tài hùng anh.
Tứ vi mây phủ nhiễu
đoanh,
Bồng lai một cõi hữu danh chữ đề.
Kể từ Tiên cảnh Ta
về,
Non Bồng Ta ở dựa kề mấy năm.
Dạo chơi tầm bực
tri âm,
Nay vì thương chúng trần gian phản hồi.
Nghĩ mình trong sạch
đã rồi,
Đào Tiên tạm thực về ngồi cõi xa.
Phong trần tâm đã rời
ra,
Ngọc Thanh là hiệu ai mà dám tranh.
Ngày ra chơi chốn rừng
xanh,
Tối về kinh kệ cửi canh mặc người.
Xuống trần lở khóc
lở cười,
Ham vui đào mận vuông tròn chẳng xong.
Chừng nào sấu nọ
hóa long,
Trần-gian mới rõ tấm lòng Thần Tiên.
Thương đời ta mượn
bút-nghiên,
Thở than ít tiếng giải phiền lòng son.
Bắt đầu cha nọ lạc
con,
Thân nầy thương chúng hao mòn từ đây.
Minh Hoàng chưa ngự đài mây,
Gẫm trong thế sự còn đầy gian truân.
Đò đưa cứu kẻ trầm
luân,
Đặng chờ vận đến mới mừng chúa tôi.
Thảm thương thế sự
lắm ôi,
Dẫy đầy thê thảm lắm hồi mê ly.
Dạo chơi Lục tỉnh một
khi,
Rước đưa người tục tu trì xa khơi.
No chiều rồi lại đói
mơi,
Dương trần sắp vướng bịnh Trời từ đây.
Khuyên trần sớm liệu
bắp khoai,
Cháo rau đỡ dạ tháng ngày cho qua.
Nhắn cùng bổn đạo gần
xa,
Tu hành trì chí mới là liễu mai.
Nguyện cầu qua khỏi
nạn tai,
Đặng coi Tiên Thánh lầu đài quốc vương.
Niệm Phật nào đợi
mùi hương,
Miễn tâm thành kính tòa chương cũng gần.
Lao xao bể Bắc non
Tần,
Quân Phiên tham báu xa gần cũng qua.
Tranh phân cho rõ
tài ba,
Cùng nhau giành giựt mới là thây phơi.
Khổ lao đà sắp đến
nơi,
Thế gian bớt miệng kêu mời cõi âm.
Dầu cho có ở xa
xăm,
Cũng là rán tới viếng thăm dương trần.
Ngũ hành cùng các
chư Thần,
Từ đây sắp đến xuống gần chúng sanh.
Chuông kia treo sợi
chỉ mành,
Chẳng lo thân phận lo giành bướm ong.
Hiếu trung hãy liệu
cho xong,
Đến chừng gặp chúa mới mong trở về.
Bây giờ kẻ Sở người
Tề,
Hiền lương đến Hội cũng kề với nhau.
Phật Trời chẳng luận
nghèo giàu,
Ai nhiều phước đức được vào cõi Tiên.
Hữu phần thì cũng hữu
duyên,
Sửa tâm hiền đức cõi Tiên cũng gần.
Ta mang mình thịt
xác trần,
Ra tay dắt chúng được gần Bồng Lai.
Mai sau nhiều cuộc
đất cày,
Đua nhau mà chạy lầu đài cũng xa.
Lập rồi cái Hội Long
Hoa,
Đặng coi hiền-đức được là bao nhiêu.
Gian tà hồn xác
cũng tiêu,
Thảm thương bá tánh chín chiều ruột đau.
Mặc ai tranh luận
thấp cao,
Thương trong lê thứ xáo xào từ đây.
Chinh chinh bóng xế
về tây,
Đoái nhìn trần thế xác thây ê hề.
Thương trần ta cũng
rán thề,
Đặng cho bá tánh liệu bề tu thân.
Tu hành chẳng được
đức ân,
Thì ta chẳng phải xác thân người đời.
Phật truyền ta dạy
mấy lời,
Đặng cho trần thế liệu thời tu thân.
Nào là luân lý Tứ
Ân,
Phải lo đền đáp xác thân mới còn.
Ai mà sửa đặng
vuông tròn,
Long Vân đến hội lầu son dựa kề.
Thương đời văn vật
say mê,
Làm điều gian ác thảm thê sau nầy.
Kể từ hầu hạ bên Thầy,
Vào ra chầu chực đài mây cũng gần.
Tuy là nương dựa
non Tần,
Ngày sau thế cuộc xoay vần về nam.
Qua sông nhờ được cầu
Lam,
Tu hành nào đợi chùa am làm gì.
Bây giờ bạc lộn với
chì,
Nữa sau lọc lại vít tì cũng chê.
Bớ dân chớ có say
mê,
Trung lương chánh trực dựa kề đài mây.
Mảng lo gây gổ tối
ngày,
Chẳng lo rèn đúc trí tài hiền lương.
Thân nầy ăn tuyết nằm
sương,
Chẳng than chẳng thở vì thương thế trần.
Theo Thầy giảng dạy
nhiều lần,
Dương gian nào biết thế trần nào hay.
Cầu cho dân khỏi nạn-tai,
Qua nơi khổ não mặc ai chê cười.
Bạc đâu dám sánh
vàng mười,
U-mê mà lại chê cười Thần Tiên.
Giã từ sơn lãnh lâm
tuyền,
Về đây hội hiệp sạ duyên tớ Thầy.
Ở rừng bạn với cáo cầy,
Bây giờ xuống thế cáo cầy lìa xa.
Thiên cơ biến đổi
can qua,
Gẫm trong thế giới còn đôi ba phần.
Mau mau kíp kíp
chuyên cần,
Chúng sanh còn có lập thân hội nầy.
Tuần hườn Thiên Địa
đổi xây,
Cám thương trần hạ lòng đây chẳng sờn.
Cũng còn kẻ ghét
người hờn,
Vì không rõ hiểu sạ duơn của Thầy.
Hổ lang ác thú muôn
bầy,
Lớp bay lớp chạy sau nầy đa đoan.
Ai mà ăn ở nghinh
ngang,
Đón đường nó bắt xé tan xác hồn.
Chữ rằng họa phước
vô môn,
Đáo đầu cũng phải xác hồn tiêu tan.
Khuyên người hữu
phước giàu sang,
Mau mau làm phước làm doan cho rồi.
Để sau khó đứng
khôn ngồi,
Thương nhà tiếc của biết hồi nào nguôi.
Ai mà ăn ở ngược
xuôi,
Bị nơi rắn rít chẳng vui đâu là.
Rắn to tên gọi mảng
xà,
Trên rừng nó xuống nó tha dương trần.
Ai mà tu tỉnh
chuyên cần,
Làm đường ngay thẳng có thần độ cho.
Thương đời hết dạ cần
lo,
Chẳng lo niệm Phật nhỏ to làm gì.
Tu là: tâm trí nhu mì,
Tu hiền tu thảo vậy thì cho xong.
Tu cầu cứu vớt Tổ
Tông,
Với cho bá-tánh máu hồng bớt rơi.
Tu cầu cha mẹ thảnh
thơi,
Quốc vương thủy thổ chiều mơi phản hồi.
Tu đền nợ thế cho rồi,
Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen.
Người tu phải lánh
hơi men,
Đừng ham sắc lịch lắm phen lụy mình.
Tu là sửa trọn ân
tình,
Tào khang chồng vợ bố kình đừng phai.
Tu cầu Đức Phật Như
Lai,
Cứu dân qua khỏi nạn tai buổi nầy.
Chữ tu chớ khá trễ
chầy,
Phải trau phải sửa nghe Thầy dạy khuyên.
Ra đời xưng hiệu
Khùng Điên,
Nào ai có rõ Thần Tiên là gì.
Tu không cần lạy cần
quì,
Ngồi đâu cũng sửa vậy thì mới mau.
Trí hiền tâm đức
chùi lau,
Ra công lọc kỷ thì thau ra vàng.
Vinh hoa phú quí chẳng
màng,
Ra oai ra lực cỡi thoàn xa chơi.
Con sông dòng nước
chiều mơi,
Dốc lòng trả nợ nước đời cho xong.
Chừng nào bổn đạo
hiểu thông,
Thiên cơ đạo lý để lòng mới thôi.
Chữ vinh chữ nhục mấy
hồi,
Đến khi thất vận làm mồi yêu tinh.
Tu rèn tâm trí cho
minh,
Tánh kia thành kiếng phỉ tình chùi lao.
Hiểu rồi những việc
lao đao,
Ở cùng cô bác làm sao cho tròn.
Kính yêu nào phải
hao mòn,
Ở cho phải nghĩa lòng son mới vừa.
Nghinh ngang hổn ẩu
phải chừa,
Bà con nội ngoại dạ thưa mới là.
Xóm giềng phải ở thật
thà,
Dầu không quen biết cũng là như quen.
Ở cho cha mẹ ngợi
khen,
Gặp người lâm nạn đua chen giúp giùm.
Xác thân là cái
gông cùm,
Nếu làm chẳng trọn thú hùm xé thây.
Cho rồi nhơn nghĩa
mới hay,
Lễ nghi phong hóa đổi thay làm gì?
Từ đây biến đổi dị
kỳ,
Dương thế chuyện gì cũng có chuyển lay.
Rèn tâm cho được thẳng
ngay,
Khỏi nơi tà quỉ một mai thấy đời.
Cũng là người ở
trong trời,
Cớ sao ăn ở nhiều lời ngổn ngang.
Hung hăng ỷ của
giàu sang,
Chẳng kiêng Trời Phật mê man ỷ tiền.
Dạy rồi cái Đạo tu
hiền,
Làm trai nhỏ tuổi tình duyên đang nồng.
Cũng đừng ghẹo gái
có chồng,
Cũng đừng phá hoại chữ đồng gái trinh.
Ra đường chọc ghẹo
gái xinh,
Nữa sau mắc phải yêu tinh hư mình.
Xử cho vẹn chữ
nghĩa tình,
Vâng lời cha mẹ mà gìn gia cang.
Nghiêm đường chịu lịnh
cho an,
Loạn luân cang kỷ hổ mang tiếng đời.
Anh em đừng có đổi
dời,
Phụ phàng dưa muối xe lơi nghĩa tình.
Tuy là Trời đất rộng
thinh,
Có Thần xem xét phân minh cho người.
Vô duyên chưa nói
mà cười,
Chưa đi mà chạy hỡi người vô duyên.
Lớn lên phận gái cần
chuyên,
Làm ăn thì phải cho siêng mới là.
Phải gìn dục vọng
lòng tà,
Đừng chiều theo nó vậy mà hư thân.
Nghe lời cha mẹ cân
phân,
Tam tùng vẹn giữ lập thân buổi nầy.
Tình duyên chẳng
kíp thì chầy,
Chớ đừng cải lịnh gió mây ngoại tình.
Đi thưa về cũng phải
trình,
Công, dung, ngôn, hạnh, thân mình phải trau.
Công là phải sửa
làm sao,
Làm ăn các việc tầm phào chẳng nên.
Mình là gái mới lớn
lên,
Đừng cho công việc hớ hênh mới là.
Chữ dung là phận
đàn bà,
Vóc hình tươi tắn đứng đi dịu dàng.
Dầu cho mắc chữ
nghèo nàn,
Cũng là phải sửa phải sang mới mầu.
Ngôn là lời nói mặc
dầu,
Cũng cho nghiêm chỉnh mới hầu khôn ngoan.
Đừng dùng lời tiếng
phang ngang,
Thì cha với mẹ mới an tấm lòng.
Hạnh là đức tánh phải
không?
Ở cùng chòm xóm đừng cho mất lòng.
Bốn điều nếu đã làm
xong,
Cũng gìn chữ hiếu phục tòng song thân.
Dạy rồi những chuyện
đức ân,
Phận làm cha mẹ xử phân lẽ nào.
Lỗi lầm chớ có hùng
hào,
Đừng chưởi đừng rủa đừng cào đừng bươi.
Đem lời hiền đức tốt
tươi,
Đặng mà giáo hóa vàng mười chẳng hơn.
Cũng đừng gây gổ giận hờn,
Cho con bắt chước sạ duơn mới là.
Nam Mô sáu chữ Di
Đà,
Từ bi tế độ vậy mà chúng-sanh.
Xưa nay sáu chữ lạnh
tanh,
Chẳng ai chịu khó niệm sành thử coi.
Trì tâm thì quá ít
oi,
Bây giờ dùng thử mà coi lẽ nào.
Rạch tim đem để nó
vào,
Thì là mới khỏi máu đào tuôn rơi.
Để sau đến việc tả
tơi,
Rồi tu sao kịp chiều mơi cho thành.
Ngày nay chim đã gặp
cành,
Chẳng lo đậu lại cho rành gió mưa.
Tu hành nhiều kẻ chẳng
ưa,
Mặc ai gièm siểm sớm trưa chẳng màng.
Gẫm trong thế sự trần
hoàn,
Người hung người ác tà gian cũng nhiều.
Thương đời ta mới
đánh liều,
Mong người tu tỉnh ít nhiều cũng hay.
Muốn tu còn đợi chiều
mai,
Khuyên người rèn sớm thì xài lâu hư.
Những người có của
tiền dư,
Hãy nên bố thí dành tư làm gì.
Sau đây nhiều chuyện
ly kỳ,
Kể sao cho xiết vậy thì dân ôi!
Tại sao chẳng cúng
chè xôi,
Bởi vì tận thế Phật thôi ăn chè.
Cũng không có muốn
hoa hòe,
Lầu đài sơn phết cũng là chẳng ham.
Ai chê khờ dại cũng
cam,
Chớ tôi cũng chẳng có ham lầu đài.
Chữ tu hãy rán miệt
mài,
Đừng kể vắn dài đừng nệ mau lâu.
Giáo khuyên khắp hết
đâu đâu,
Bớt điều mị dối mới hầu thấy Ta.
Đừng theo lũ quỉ lũ
ma,
Cúng kiếng nó mà nó phải ăn quen.
Chết rồi cũng bớt
cóc keng,
Trống đờn lễ nhạc tế xen ích gì.
Đàn-nhu thầy lễ
cũng kỳ,
Mắc phải chuyện gì phủ phục bình-hưng.
Lại thêm đờn địch từng
tưng,
Đem con heo sống mà dưng làm gì.
Chủ gia kẻ lạy người
quì,
Làm chuyện dị kỳ giả dối hay không?
Nếu không thì trả lời
không,
Bằng mà có dối thì hòng sửa đi.
Thương đời ta luống
sầu bi,
Học nho cứ mãi làm thi ngạo đời.
Rung đùi ngâm chuyện
trên trời,
Tình duyên cá nước vậy thời dỗ con.
Thấy đời Ta cũng
héo von,
Học nho mà chẳng làm tròn nghĩa nhơn.
Khoe mình chẳng có
ai hơn,
Nhờ làm thuốc bắc đỡ cơn túng nghèo.
Hiền nhơn chẳng chịu
làm theo,
Đợi ai có bịnh túng nghèo chẳng tha.
Hốt thời cắc bảy cắc
ba,
Nó đòi năm cắc người ta hoảng hồn.
Lành bay còn ác lại
tồn,
Đến chừng lập Hội xác hồn lìa xa.
Mấy anh thầy thuốc
Lang sa,
Cũng là mổ mật người ta lấy tiền.
Xin trong anh chị đừng
phiền,
Đồng bạc đồng tiền là thứ phi ân.
Muốn sau dựa được
Các Lân,
Hãy nên trau sửa hiền nhân mới là.
Những người quê dốt
thật thà,
Cũng nên tu niệm nhờ mà thân sau.
Lập đời mới biết thấp
cao,
Bây giờ chưa biế ai thau ai chì.
Đời xưa có Ngũ Viên
Kỳ,
Đem tài học thuốc hiến thì cho dân.
Người xưa còn chẳng
cần thân,
Miễn cho trong nước chúng dân được nhờ.
Để tâm yên lặng như
tờ,
Nghĩ suy lời lẽ tỏ mờ thể nao.
Luận xem thế sự thấp
cao,
Khuyên dân hãy bớt làm màu hiếu nhi.
Bớt bỏ rình rang một
khi,
Nếu cha mẹ chết làm y lời nầy.
Là lời truyền giáo của Thầy,
Bông hoa cầu Phật hiệp vầy đi chôn.
Còn mình muốn đãi
làng thôn,
Thì là tùy ý đáp ngôn cho người.
Gẫm trong thế sự nực
cười,
Chẳng lo cải sửa cho người tâm ngay.
Mình làm chữ hiếu mới
hay,
Chớ mướn người ngoài cầu nguyện khó siêu.
Muốn cho tội lỗi
mòn tiêu,
Thành tâm cầu nguyện sớm chiều mới hay.
Mục Liên cứu mẹ bằng
nay,
Nhờ người hiếu hạnh tâm rày từ bi.
Ai ai hãy rán mà
suy,
Thương đời Ta tỏ chuyện ni rõ ràng.
Làm tuần trà rượu
xình xoàng,
Rồi thì chưởi lộn mà an nổi gì?
Dương trần làm chuyện
dị kỳ,
Tạo nhiều cảnh giả, chơn thì chẳng theo.
Của tiền chớ có bỏ
theo,
Chết rồi tế lễ bò heo làm gì?
Nếu ai biết chữ tu
trì,
Cha mẹ còn sống vậy thì cho ăn.
Không làm để ở
lung-lăng,
Chưởi cha mắng mẹ lăng xăng thiếu gì.
Ở cho biết nhượng
biết tùy,
Vui lòng cha mẹ vậy thì mới ngoan.
Đạo là vốn thiệt
cái đàng,
Ta ra sức dọn cho toàn chúng sanh.
Thôi thôi bớt miệng
hùng anh,
Ở nơi cửa khẩu thiệt rành tiếng ni.
Chưng bày quân tử
làm chi,
Của đồ hổ bịt vậy thì xưng hô.
Lũ đàng lũ điếm hồ
đồ,
Anh hùng quân tử xưng hô rền trời.
Gặp ai mắc nạn cười
chơi,
Chớ không ra sức giúp đời điều chi.
Hổ mình là bực tu
mi,
Chưa tròn bổn phận mà ti tôn mình.
Kể từ thượng lộ
đăng trình,
Vào Nam ra Bắc mặc tình bôn phi.
Khuyên răn trần thế
một khi,
Tuồng đời sắp hạ bằng ni rõ ràng.
Dương gian làm huyễn
nói càn,
Cùng xóm cuối làng đâu cũng như đâu.
Hò reo giục trống
nhiều câu,
Sai đồng khiển quỉ nói lâu nực cười.
Ta khuyên hết thảy
các người,
Nhiều chuyện trò cười hãy bỏ bớt đi.
Đừng hò đừng réo
làm chi,
Nghinh ngang kêu múa có khi hại mình.
Nghe không thì cũng
mặc tình,
Nói cho rõ rệt dân tin không là.
Quan Âm Nam Hải Phổ
Đà,
Cùng Thầy ra lịnh nên Ta giáo truyền.
Thánh Thần không phải
thiếu tiền,
Mà kêu mà réo xuống trần mà sai.
Nam Mô Quan Âm Như
Lai,
Cầu xin chư Phật cứu nay dương trần.
Khuyên đừng chưởi
Thánh mắng Thần,
Xưa nay thứ lỗi thế trần chẳng kiêng.
Lưỡng Thần ghi chép
liên miên,
Nào tội nào phước dưới miền trần gian.
Tâu qua Thượng Đế
Ngọc Hoàng,
Dương trần hung ác đa đoan quá nhiều.
Chúng sanh ngang
ngược làm liều,
Ngọc Hoàng Ngài muốn xử tiêu cho rồi.
Minh Vương khó đứng
khôn ngồi,
Thảm thương lê thứ mắc hồi gian truân.
Trước đền mắt ngọc
lụy rưng,
Quí yêu bá tánh biết chừng nào nguôi.
Làm sao cho dạ được
vui,
Cúi đầu lạy Phật cầu xin cứu trần.
Lời khuyên xưa cũng
một lần,
Nay mượn xác trần xuống bút ra cơ.
Khôn ngoan nghe nói
ngẩn ngơ,
Ngu si thì tưởng như thơ biếm đời.
Ở đâu cũng Phật
cũng Trời,
Tâm thành chí nguyện xem đời khó chi.
Văn Thù Bồ Tát từ
bi,
Chèo thuyền Bát Nhã cứu thì trần gian.
Gió đưa lướt sóng
buồm loan,
Rước người tu niệm xuê xang phỉ tình.
Ai mà Ta dạy chẳng
gìn,
Thì sau đừng trách mất tình yêu đương.
Bàn môn tài phép
nào tường,
Kêu Trời giậm đất cũng thì dạ rân.
Nói cho trần hạ liệu
toan,
Chớ theo tả đạo mà tan xác hồn.
Nó làm nhiều phép
nhiều môn,
Bùa mê thuốc lú mê hồn chúng sanh.
Thành binh sái đậu
cũng rành,
Nếu tin thời mắc tan tành về sau.
Bây giờ bất luận
người nào,
Không dùng của thế sắc màu cũng không.
Nói cho bổn đạo rõ
lòng,
Ấy là chơn chánh mới hòng vinh vang.
Địa Tiên tài phép
đa đoan,
Phi đao bửu kiếm mê man mắt trần.
Phật truyền thâu hết
phép Thần,
Cứu an bá tánh một lần nạn nguy.
Phiên binh bốn phía
tứ vi,
Kể sau cho xiết chuyện ni sau nầy.
Lớp thì thú ác dẫy
đầy,
Lớp thì tranh đấu tối ngày chẳng thôi.
Kẻ hung chừng đó
làm mồi,
Cho bầy ác thú đền bồi tội xưa.
Bây giờ còn mãi lọc
lừa,
Chẳng lo kiếm chỗ đụt mưa sau nầy.
Hiền lành chừng đó
sum vầy,
Quân thần cộng lạc mấy ngày vui chơi.
Đến đó Ta mới mừng
cười,
Nhìn xem Ngọc Đế giữa Trời định phân.
Thiên Hoàng mở cửa
Các Lân,
Địa Hoàng cũng mở mấy từng ngục môn.
Mười cửa xem thấy
ghê hồn,
Cho trần coi thử có mà hay không.
Nhơn Hoàng cũng lấy
lẽ công,
Cũng đồng trừng trị kẻ lòng tà gian.
Ấy là đến lúc xuê
xang,
Tam Hoàng trở lại là đời Thượng Nguơn.
Khuyên dân lòng chớ
có sờn,
Rán tu thì được xem đờn trên mây.
Người hung chết đất
chật thây,
Nhìn xem bắt thảm ngày rày cho dân.
Mấy người còn được
xác thân,
Thì là Đài Ngọc Các Lân mới kề.
Bây giờ kẻ nhún người
trề,
Chê ta rằng dại rằng khờ cũng cam.
Dương trần bỏ bớt
tánh tham,
Đừng chơi cờ bạc đừng làm ác gian.
Để sau coi Hội coi
hàng,
Coi Tiên coi Phật mới ngoan bớ trần.
Điếm đàng đĩ thõa
chớ gần,
Để sau xem thấy non Tần xôn xao.
Tuy nghèo dùng đỡ
cháo rau,
Bền lòng niệm Phật thì sau thanh nhàn.
Đừng quen thói cũ
làm càn,
Trộm gà cắp vịt xóm làng ghét vơ.
Khi xưa Ta cũng làm
thơ,
Mà đời trần hạ làm ngơ ít nhìn.
Dạy cho trần thế phỉ
tình,
Đàng Tiên cõi tục phân minh hai đường.
Bây giờ hát bộ là
thường,
Để sau Phật hát tỏ tường cho xem.
Cải lương tuồng ấy
cũ mèm,
Tốn tiền buồn ngủ lại thèm đồ ăn.
Nhảy lui nhảy tới
lăng xăng,
Làm tuồng mèo mả thêm nhăng cho đời.
Hạ nguơn lòng dạ đổi
dời,
Bây giờ khổ não đến đời là đây.
Rán nghe lời dạy của
Thầy,
Để chừng đến việc kiếm Thầy khó ra.
Tây phương Thầy lại
quá xa,
Nên Ta mới nói cạn lời dân nghe.
Đừng ham lên ngựa
xuống xe,
Ăn xài phí của lụa the làm gì.
Xuống trần Ta dạy cố
lỳ,
Cốt cho trần thế nghe thì mới thôi.
Ngày nay xe lết xe
lôi,
Đúng lời truyền sấm của hồi đời Lê.
Là năm Rồng, Rắn,
Ngựa, Dê,
Chúng sanh thế giới ê hề thây phơi.
Trạng Trình truyền
sấm mấy lời,
Ngày nay dân chúng vậy thời rán tri.
Hiền nhơn bổn phận
tu mi,
Hãy mau thức tỉnh kiếm thì huyền cơ.
Ngọn đèn khi tỏ khi
mờ,
Chúng sanh còn đợi còn chờ chuyện chi.
Trên trời xuất hiện
Tử Vi,
Quang minh sáng suốt vậy thì dân ôi!
Thương dân khó đứng
khôn ngồi,
Xót xa dạ Ngọc bồi hồi tâm trung.
Gió giông thì cội
cây rung,
Phương xa có giặc thung dung đặng nào?
Trời tây chúng nó
hùng hào,
Đem lòng gây gổ máu đào mới tuôn.
Cầu trời cho chúng
qua truông,
Thế gian yên lặng hát tuồng khải ca.
Tây phương tuy ở
cõi xa,
Thành tâm thì có Phật mà đáo lai.
Ước mong dân khỏi nạn
tai,
Dắt dìu Tiên cảnh Bồng Lai nhiều người.
Xem trần khó nỗi
vui cười,
Lo giàu lo lợi chẳng rồi bớ dân.
Mẹ cha là kẻ trọng
ân,
Dưỡng nuôi báo hiếu lúc thân yếu già.
Giường linh đơm quảy
mới là,
Có chi cúng nấy vậy mà dân ôi!
Ta là thân phận làm
tôi,
Phải đền phải đáp cho rồi mới hay.
Mặc ai tranh luận đấu
tài,
Khuyên dân nên hãy miệt mài chữ tu.
Giảng nầy ra cuối
mùa thu,
Dạy ăn dạy ở chữ tu vuông tròn.
Học theo mối đạo
làm con,
Luận xem học mới mấy đon đời nầy.
Văn minh sửa mặt sửa
mày,
Áo quần láng mướt ngày rày ăn chơi.
Dọn xem hình vóc lả
lơi,
Ra đường ăn nói những lời nguyệt hoa.
Trong tâm nhớ những
điều tà,
Lời ăn tiếng nói thiệt là quá lanh.
Xưng là đầu trẻ tuổi
xanh,
Chẳng trau hiền đức học hành làm chi?
Khôn ngoan thời những
chuyện gì,
Cũng là lừa dối vậy thì dân quê.
Người xưa nó lại
khinh chê,
Ông cha hủ bại u mê hơn mình.
Tự do trai gái kết
tình,
Với lo trau sửa cho mình đẹp tươi.
Gái trai đến tuổi
đôi mươi,
Chẳng kiêng cha mẹ nói cười lả lơi.
So hình sửa sắc chiều
mơi,
Đặng làm những chuyện trái đời vô liêm.
Cớ sao chê cổ trọng
kim,
Phụ cha phản chúa lỗi niềm tôi con.
Thấy đời trần hạ
thon von,
Ai nuôi cho lớn mà còn khinh khi.
Ông cha thuở trước
ngu si,
Mà ngay mà thật hơn thì đời nay.
Học hay lợi dụng tiền
tài,
Lên quan xuống huyện ăn xài lả lê.
Gặp ai đói rách cười
chê,
Miệng kia hễ mở chưởi thề vang rân.
Chẳng lo rèn trí lập
thân,
Để làm xảo trá khổ thân sau nầy.
Giáo viên các sở
các thầy,
Khuyên mau tỉnh ngộ tập rày lòng nhơn.
Giúp đời đừng đợi
trả ơn,
Miễn tròn bổn phận hay hơn bạc vàng.
Đánh liều ta cũng
nói càn,
Cứu dân bất luận giàu sang khó nghèo.
Vinh hoa như thể bọt
bèo,
Hiền lương bất luận khó nghèo cũng xinh.
Nhắc năm Gia Tĩnh
triều Minh,
Nàng kiều vì hiếu bán mình chuộc cha.
Tuy là lưu lạc bôn
ba,
Đến khi mãn hạn bạn xưa cũng nhìn.
Ghét ưa ta cũng mặc
tình,
Nghiệm kim suy cổ biện minh thế nào.
Bá gia kẻ thấp người
cao,
Hiền thần hiếu nghĩa rán trau cho rồi.
Giảng nầy chỉ các
điều tồi,
Khuyên dân hãy rán mà ngồi mà suy.
Thân Ta, Ta chẳng
tiếc chi,
Miễn cho bá tánh nạn gì cũng qua.
Luận xem những việc
sâu xa,
Chúng sanh tưởng Phật thì là hãy coi.
Tháng ngày như thể
đưa thoi,
Nguyện cầu thế giới bớt ngòi chiến tranh.
Ngồi buồn dân gặp
chiếu manh,
Ta cho bá tánh bức tranh vô hình.
Ai ai cũng rán
xét mình,
Nếu còn tánh xấu thì rinh ra ngoài.
Cạn lời mà ý còn
dài,
Hiến cho trần hạ một bài ngụ ngôn.
Tới đây Ta giả
làng thôn,
Ngọc Thanh lui gót phi bôn Nam Kỳ.
Hiền thần sách sử
nêu ghi,
Miễu son tạc để tu mi trung thần.
Thôi thôi cảnh khổ
hầu gần,
Ta khuyên dân chúng ân-cần nhìn xem.
Ra đời dạy dỗ anh
em,
Xem qua ít bận rán đem vào lòng.
Người tu như thể
bá tòng,
Ai ai cũng quí cũng trông cũng nhìn.
Sửa trau là phận
của mình,
Xưa nay lời lẽ sử kinh rõ ràng.
Chừng nào ta gặp
Hớn Hoàng,
Chúng sanh mới hết phàn nàn số căn.
Mạnh Tông xưa
cũng khóc măng,
Đất khô nẩy mụt rõ lòng hiếu nhi.
Mặc ai nhạo báng
khinh khi,
Phần ta niệm chữ từ bi độ đời.
Muốn xem được Phật
được Trời,
Thì là phải rán nghe lời dạy răn.
Bá gia cùng các chư
tăng,
Việc tu không đợi hương đăng làm gì.
Đời cùng tu gấp kịp
thì,
Đặng xem báu ngọc ly kỳ Năm Non.
Phật thương bổn đạo
như con,
Muốn cho bổn đạo lòng son ghi lời.
Nữa sau đến việc biết
đời,
Bây giờ chưa thấy nó thời không tin.
Tới đây cũng dứt giảng
kinh,
Nếu ai biết sửa tâm linh mới mầu.
Nam mô lòng sở nguyện
cầu,
Chúc cho bá tánh muôn sầu tiêu tan.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
(tam niệm)
Cầu Phật Tổ, Phật Thầy, quan Thượng Đẳng Đại Thần, chư quan
Cựu Thần, chư vị Sơn Thần, chư vị Năm Non Bảy Núi phổ độ bá tánh vạn dân tiêu
tai tịnh sự giải thoát mê ly.

Nhận xét
Đăng nhận xét