Kinh ông tiều lão



 

               Kinh ông tiều lão

 

Ngồi buồn xem khắp thế gian

Thấy trong thiên hạ nhộn nhàn lắm thay

Năm ngọ chưa thấy nạn tai

Năm mùi lao khổ lắm thì dân ôi

Tháng ba bệnh khổ đứng ngồi

Tháng tư phải động một hồi chúng sanh

Mau mau cố thủ làm lành

Chí công tu niệm không thành cũng ưng

Tháng năm bệnh khổ tưng bừng

Bước qua tháng sáu lẩy lừng âm binh

Tháng bảy đá nổ ầm ầm

Bước qua tháng tám thây nằm làng khan

Tháng chín dân chúng nào an

Phong thần dáng xuống không toàn đứng đâu

Tháng mười nhiều sự li kỳ

Hổ lang ác thú vậy thì nhảy ra

Chạm lòng tiều lão suy ra

Nhơn dân từ trẻ đến già không yên

Năm thân trời hạn khô khan

Tháng năm có Chúa Minh Hoàng bước ra

Âm binh ba tiếng vậy mà

Thay hồn đổi xác vậy mà không sai

Thiên cơ lão đã tỏ bày

Mặc tình trần thế xem thời thì nghe

 Chị em tua khá kiêng dè

Rán trồng khoai bắp mùa hè đở thân

Lúa kia hao hết ba phần

Làm sao ăn đủ lần lần khổ thay

Đói lòng ăn bắp với khoai

Chờ cho tới hội chiều mai coi đời

Ở trên mây bạc giữa trời

Tiêu thiều nhạc trổi lập đời thượng ngươn

Năm dậu phật giáng thất sơn

Tại non ông cấm giã chơn thì tường

Bá gia mau khá lo lường

Tu tâm tu tánh lo lường nghĩa nhơn

Hào quang phật chiếu tứ phương

Sư thầy có lẽ tỏ tường chẳng sai

Tiều dưng lời phật dạy rày

Biên ra một bổn văn bài ca ngâm

Đời này giả điếc giả câm

Biết ăn biết nói soi tâm phừng phừng

Thân tôi tiều lão ở rừng

Đốn củi đổi gạo cầm chừng cũng no

Công danh phú quí thì lo

Không lo niệm phật nằm co kêu trời

Bấy lâu phật dạy quên lời

Ngày nay ác thú ra đời nó ăn

Nhìn đời lữa cháy tứ giăng

Trên non chuyển động binh trần kéo ra

Lao xao kẻ khóc người la

Mới biết lời phật dạy mà chẳng sai

Lời khuyên anh chị ai ai

Khá tu niệm phật ngày mai thấy đời

Lời thầy dạy bảo hết lời

Tiều dưng lịnh phật nối đời thế gian

Cùng nhau ta sẽ ra đàng chầu vua

Nước nam như thể cái chùa

Ngày sau các nước bốn mùa vô ra

Núi dày núi cấm nước ta

Cửa nhì núi thích thiệt là không sai

Cửa ba ông tô đặc rày

Cửa tư ông cấm lầu đày tốt xinh

Thập bác mười nước chiến chinh

Làm sao qua khỏi thì mình thảnh thơi

Thiên cơ chưa dám ráo lời

Cúi đầu niệm phật niệm thời thích ca

Quan âm nam hải phật bà

Phật thầy chứng chiếu ta thì chung qua

Cũng đừng ỷ giỏi tài ba

Nhảy qua thì ắt sa mình đầu rơi

Tiều điên tiều nói ít lời

Mặc tình anh chị tinh thời để coi

 

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT [ 3 lần ]

 

 

 

 

 

 

Kinh Năm Bính Thân  [ 1896­-1897 ]

 

Bính thân là cuộc đổi dời

Nhà tôi không chủ ai thời cũng vô

Cơn buồn cậy chữ nam mô

Vai mang áo bả vi vô bồ đề

Kể từ núi cấm ta về

Lìa xa bổn đạo não nề tâm cang

Lên non chọi đá thử vàng

Thử lòng bổn đạo còn màng hay không

Nhìn cây rừng rú não nồng

Bốn phương hiu quạnh chập chồng non cao

Chim kêu vượn hú héo xào

Xuống nơi am tự ở ngoài mái hiên

Vẻ ra lời lẻ cơ huyền

Mượn tay xác thịt thảm phiền lòng ta

Thầy trò phú quí vinh hoa

Hưởng mùi sen báo sao mà không an

Vì thương bá tánh trần hoàn

Tấm thân lao khổ cơ hàn xá chi

Kìa kìa bốn chữ sơn kỳ

Đáo lai trần thế kể gì tấm thân

Bá gia đồng đạo xa gần

Nào ai có biết xác trần trơ trơ

Thôi thôi trở lại kịp giờ

Lên lưng bạch hạt đặc lờ trên non

Ra đi lời dặn vuông tròn

Dầu mà xa vắng còn lời ca ngâm

Bá gia thiện tính rán tầm

Tầm đường chánh giác kẽo lầm quỉ ma

Dầu cho ta ở phương xa

Sấm truyền còn đó tại gia tu hành

Chậu ai treo sợi chỉ mành

Ăn thì no dạ hông cành vội quên

Muối dưa sớm tối cho bền

Bồ đề chuổi hột đặng lên bảng vàng

Thân ta còn chịu cơ hàn

Huống chi trần thế giàu sang ít gì

Sau bằng hiền đức tu mi

Thờ cha kính mẹ tu trì sớm khuya

Tứ ân rèn đức đủ chìa

Láng linh thọ cảnh trở về năm non

Than ôi thác mất tiếng còn

Muốn làm đạo hạnh khuyết tròn chi trăng

Nguyện sau có phép phi đằng

Buổi đầu chịu khổ sau này đặng tên

Thế gian còn thãm lụy phiền

Vợ chồng nghiệp chướng tiền khiên quả trần

Tứ ân là đạo mối giềng

Tam cang gắng bó qui điền cố nhân

Ngày nay rao vọng bản đờn

Rao cho bá tánh bửu sơn nằm lòng

Xưa kia ta ở đất đồng

Láng linh bị cháy não nồng thân ta

Từ ngày cổ tự ly gia

Theo thầy bén gót về mà năm non

Than ôi sóng mất thác còn

Ngày nay tính đủ đã tròn chín mươi

Khóc than rồi lại miệng cười

Về nơi bổn láng thử lòng đạo ba

Nhắc qua một lúc ta bà

Truyền ngôn di tích coi mà biết không

Nhắc rồi thêm thãm động lòng

Ở chùa ăn mập mà hồng biết ai

Ngày rằm cơm dọn ghế dài

Thỉnh mời cô bác nhơn tài tựu đông

Nón tây rô quách vàng đồng

Ta chen vô đó giã lòng ăn chung

Thủ tự chạy tới rầy cùng

Đi dang chổ khác sau thời sẻ ăn

Trả lời một tiếng nặng quằn

Xét ra cho kỹ đạo hằng còn chi

Thôi thôi từ giả ra đi

Hỏi cô tám chắc ngày chi đông dầy

Cô rằng ngày vía phật thầy

Huynh đâu không biết mà hồng hỏi thăm

Cô ơi khờ dạy nhứt tâm

Kỳ hương bốn chữ cô tầm còn không

Chắc nghe buôn chén khóc ròng

Phận con ngu muội không mà biết chi

Giả từ cô ở tôi đi

Chừng nào nước ngược gió xuôi tôi về

Thôi thôi từ giả bốn bề

Phận tôi lao khổ nhiều bề gian nan

Từ đây lên núi thử vàng

Hỏi thăm phỏng đá sau mà đứng đây

Đá rằng đứng đợi chờ thầy

Bửu sơn trở lại ông rày hay chưa

Hỏi ông cho biết đặng ngừa

Tại sao dân chúng thớt thưa như vầy

Đá rằng tại chẳng nghe thầy

Tới ngày cường bạo không đầy xuồng dông

Hỏi ông cho biết đất đồng

Chừng nào qui tựu gióng giòng nam bang

Đá rằng chổ đó nguy nan

Chừng nào núi lở nước tràn mới qui

Hỏi ông cho biết sơn kỳ

Bốn ông tứ giáo nay thì đi đâu

Đá rằng còn ẩn ruộng sâu

Đáo đi lộn lại long châu một người

Hỏi ông cho biết tháng mười

Tại sao dân chúng mới cười khóc than

Đá rằng nước lục thủy tràn

Cho nên thế sự riêng than bảy phần

Hỏi ông cho biết xuồng bần

Chừng nào ông lướt sang lần về nam

Đá rằng chú hỏi bao hàm

Ai tu nấy hưởng ai làm nấy ăn

Hỏi ông cho biết đạo hằng

Thằng sỹ thằng tượng hay thằng nào nên

Đá rằng xịt lụi hai bên

Hai thằng rớt ráo không nên thằng nào

Hỏi ông cho biết anh hào

Trung quân ái quốc chổ nào là nên

Đá rằng tu niệm vững bền

Thấy người dung đức đặng lên bản vàng

Hỏi ông cho biết chiếc thoàn

Bây giờ xa vắng băng ngàn đi đâu

Đá rằng chú hỏi cơ cầu

Chèo qua chèo lại gần cầu mặc dưng

Hỏi ông cho biết chín từng

Tu hành chánh lý từng nào đặng lên

Đá rằng sấm nổ nghe rền

Người tu cổi lớp đặng tên bảng vàng

Hỏi ông cho biết cơ hàn

Lùng tung lúng túng biết đàng nào đi

Đá rằng đứng chổ A DI

Trì tâm thiện niệm một khi gặp thầy

Hỏi ông cho biết tớ thầy

Càng không thế giớ ai mà định phân

Đá rằng Ngọc Đế cầm cân

Minh Vương xuất thế định phần cho ta

Hỏi ông cho rỏ sơn hà

Ngày nào trở lại lập rày cho ai

Đ rằng xưa ở đất cày

Ngày nay Chúa Nguyễn lập rày Vua Nghiêu

Hỏi ông cho rõ mai chiều

Chừng nào lập hội còn nhiều hay không

Đá rằng chú hỏi ngặt lòng

Ai tu còn sống không lòng còn chi

Hỏi ông cho biết huyền vi

Một thầy ba tớ chạy đi đằng nào

Đá rằng chú hỏi quá cao

Khi thầy khi tớ thay hoài khó phân

Hỏi ông cho biết một lần

Tại sao ông đứng chần ngần ở đây

Đá rằng chú hỏi cù quây

Một lòng khắc cốt theo thầy ghi xương

Hỏi ông cho biết tận tường

Tôi không có cúng cơm giường đặng không

Đá rằng hiểu nghĩa nặng lòng

Sớm chiều đơm quảy mới là hiếu nhi

Hỏi ông cho biết tu trì

Tôi mang sắc phật tởi mà đặng không

Đá rằng chú hỏi nặng lòng

Của mình rửa sạch lòng mình bợn nhơ

Hỏi ông cho biết bến bờ

Tởi khuyên khắp chốn ăn mà thành không

Đá rằng chú hỏi viễn dông

Từ kim chí cổ không ông nào thành

Hỏi ông đạo đức tu hành

Muối dưa đơm quảy mà thành không ông

Đá rằng trời đất mênh mông

Tây phương phật chứng nơi lòng từ bi

Hỏi ông tôi học vậy thì

Xin ông miễn chấp tôi thì mang ơn

Đá rằng chú thiệt có cơn

Hỏi hoài hỏi mãi hỏi rày không thôi

Ông ôi đạo hạnh chưa rồi

Hỏi ông cho biết tôi hồi sửa tâm

Đá rằng phật tánh nơi tâm

Tu không hiểu nghĩa trăm năm cũng phàm

Hỏi ông đức phật già lam

Người không tu niệm sao mà dặng siêu

Đá rằng chú hỏi quá nhiều

Nhờ lòng trung chánh sớm chiều mới thăng

Hỏi ông cho biết sải tăng

Ông lương võ đế tu sao không thành

Đá rằng chú hỏi chành bành

Vì ăn của thế no cành khó siêu

Thôi thôi hỏi lại quá nhiều

Bây giờ trở lại hỏi cùng phận ông

Bấy lâu còn ở non bồng

Nội trong ba pháp ông thông pháp nào

Đá rằng chú hỏi kỳ cao

Siêu phàm nhập thánh pháp nào cũng không

Hỏi ông còn cội bá tòng

Đài sen thơm ngát có lòng đợi ai

Đá rằng chú hỏi quá giai

Đợi rày tâm đạo đợi người chơn tu

Hỏi ông cho biết tuốt mù

Thích ca ấn độ qua rày làm chi

Đá rằng ông hỏi quá kỳ

Qua đây giáo đạo vậy thì chúng sanh

Hỏi ông cho biết thị thành

Quá đông dân số tu hành ít ai

Đá rằng chắc lưởi thở dài

Khó mong cứu đặng ngày rày chú ơi

Đạo đời hỏi đá xong rồi

Bây giờ trở lại móc mòi thả câu

Lên non dòm xuống thảm cầu

Hỏi thăm Cố Quãn ở rày nơi đâu

Đá rằng ông xuống đã lâu

Cùng ông trung trực cũng hầu đi chung

Lên non chẳng gặp não nùng

Hỏi ông Hùng Võng cùng là ông Thân

Mười hai ông đạo tây an

Đi đâu mất hết núi vàng lạnh tanh

Đá rằng đi cứu chúng sanh

Ở trong trần thế thị thành sớm khuya

Hỏi thăm chẳng thấy ai về

Nhìn xem cục đá não nề thân ta

Đá ôi gìn giữ nước nhà

Bây giờ có biết cha già đâu không

Đá rằng thầy tớ mênh mông

Một hồn trăm xác biết đâu mà tầm

Hỏi ông tôi hát rầm rầm

Mà trong thế sự điều lầm sạch trơn

Đá rằng chú lại có cơn

Khi vui thì hát khi buồn thì ca

Hỏi ông cho biết Di Đà

Từ nam trung bắc ai mà giáo khuyên

Đá rằng nghe nói bắt điên

Bây giờ xuống thế chèo thuyền long châu

Hỏi ông cho biết nhiệm mầu

Con gà nó gáy tại đầu hai đuôi

Đá rằng chú hỏi câu mâu

Con gà nó gáy phao câu mới kỳ

Hỏi ông cho biết đặng trì

Chừng nào gặp đặng sơn kỳ hởi ông

Đá rằng chú hỏi viển vong

Đông tàn xuân rước phỉ lòng ước ao

Hỏi ông cho đủ sắc màu

Chừng nào trâu gống chiếc tàu chạy vô

Đá rằng chú rán nam mô

Vói lên một vói nó vô tới nhà

Hỏi ông tôi bận áo dà

Tôi đi bán sách vậy mà đặng không

Đá rằng chú hỏi nhọc lòng

Sợ sau chú gặp Quan Công bay hồn

Hỏi ông cho biết cái bồn

Chừng nào nước tới tôi dồn nước qua

Đá rằng Bồ Tát ma ha

Tháng năm tát ít dồn qua tháng mười

Hỏi ông cho biết việc đời

Đỉa đeo chân hạt chừng nào sức ra

Đá rằng hạt đỉa lang sa

Ông chàng đánh lưới cũng qua đất giồng

Hỏi ông cho biết non bồng

Tôi tu cái miệng ông rày chứng không

Đá rằng chú hỏi bao đồng

Mê tiền mê bạc tu còng diêm la

Hỏi ông cho biết Di Đà

Niệm sao thành phật vậy mà ông phân

Đá rằng chú hỏi cù lằng

Tu không màu sắc vàng ròng cũng không

Hỏi ông tôi lại buồn lòng

Tại sao tôi khóc ông hồng nói đi

Đá rằng chú niệm A Di

Ngày đêm sầu thãm khóc thì cho dân

Hỏi ông tu niệm nhờ thân

Tôi không tu niệm ông hằng thương cho

Đá rằng chú hỏi sầu bi

Trước khi nó sợ sau thì không nghe

Hỏi ông tôi lại không dè

Sấm kinh tôi bỏ sụp hầm làm sao

Đá rằng chú hỏi tầm phào

Không tu trời phạt đạp nhào chôn luôn

Hỏi ông ông nói tôi buồn

Phật không cứu vớt chôn luôn hởi trời

Đá rằng đừng trách chú ơi

Thánh thần trời phật thỉnh cầu

Tại sao chú chẳng nguyện cầu

Ỷ quyền sức mạnh cường đầu làm cha

Sống thì dù dỏng lang sa

Một mai xa giếng ra ma tiêu hồn

Hỏi ông tôi muốn trường tồn

Mà ông cứu vớt linh hồn đặng không

Đá rằng chú hỏi đau lòng

Xác tiêu không có hồn không làm gì

Hỏi ông còn kẻ tu trì

Thức khuya dậy sớm sau thì đứng đâu

Đá rằng đứng bực mày râu

Công danh chạm bản về chầu Phật Vương

Hỏi rằng đức phật mười phương

Lâm phàm độ thế đường nào vãng sanh

Đá rằng nhà lá trại tranh

Cháu rau cua ốc tu hành mới siêu

Hỏi ông chùa lớn đỏ điều

Của tiền bá tánh quá nhiều làm sau

Đá rằng ăn của đồng bào

Tu cho bánh tánh chú nào thành đâu

Hỏi ông ông nói cũng rầu

Lại ông bốn lại tôi hầu đi xa

Có lòng chờ đợi ông mà

Gặp ông ông nói tôi mà hởi ơi

Đá ơi ông ở tôi về

Từ đây trở lại lo bề tu thân

Cả kêu khắp chốn dương trần

Tôi nay hỏi kỷ đ gần rồi đa

Xưa kia đá dựng hằng hà

Đá nay biết nói vậy mà bớ dân

Bấy lâu nắng sở mưa tần

Trèo non lặng suối tấm thân chẳng màng

Vì thương thế sự trần hoàn

Nên ta vưng sắc lãnh phần giáo khuyên

Ba năm phổ độ ưu phiền

Vì thương đồng chủng xuống miền trần gian

Cơ hàn đói rách chẳng than

Gánh trung gánh hiếu nặng mang sơn kỳ

Lên non nhai đá cứng thì

Đói lòng niệm phật hớp thì nước vô

Mà dân cứ mãi mơ hồ

Lòng ta đâu nở bỏ mồ cỏ hoang

Ngày nay kêu réo thế gian

Tôi về vồ đá vai mang bồ đề

Nhìn xem bốn chữ não nề

Muôn dân chìm đấm trở về đâu an

Nhắn cùng bá tánh trần hoàn

Nhớ ơn phật thánh hiệp đoàn lo tu

Ham chi màu sắc dỏng dù

Xê xang danh lợi như mù đi đêm

Phận ta đâu có thù hềm

Tối ngày ca hát mỏng mền như mây

Ai ai cũng ước chờ thầy

Nhìn xem răn cấm lòng thầy quặn đau

Cả kêu khắp chốn đồng bào

Thiện nam tính nữ kiếm bài mà coi

Thương đời có mắt không soi

Có tâm không nghiệm mà coi việc đời

Dầu cho ta có đổi dời

Cách xa ngàn dặm tiếng lời còn đây

Từ ngày cách dặm đàng mây

Ước cho đồng đạo sum vầy lo tu

Ra đi một lúc xa mù

Nhớ chừng trở lại chịu tù mấy phen

Vui chơi thi phú bóng đèn

Trái đời cha lại lèn xèn dại con

Sấm kinh thầy để vẫn còn

Tám điều răn cấm nay còn hai su

Sấm kinh truyền dạy bảo tu

Chớ nào có biểu dỏng dù nghinh ngang

Thôi thôi từ vã xóm làng

Nhớ ơn phật thánh hiệp đoàn lo tu

Ham chi màu sắc dỏng dù

Tu không mặc ý không khuyên không mời

Ai tu sau dặng coi đời

Xuống thuyền bát nhã chèo thời sang song

Thuyền đưa rước khách non bồng

Thiện nam tính nữ có lòng xuống đi

Chèo qua lục tỉnh một khi

Chèo qua núi cấm lên thi công hầu

Ngày nay thầy tớ thãm sầu

Ai người tu niệm giải dầu đừng than

Trên non mà có bản vàng

Dưới thuyền lại có các hàng chư nhu

Đứng hầu tiếp rước người tu

Chừng nào dân thấy công phu khó thành

Trên thì bốn chữ đành rành

Có ông Bành Tổ có bà Quan Âm

Chuẩn đề thần chú tay cầm

Cùng ông bành tổ tay cầm hồ lô

Tịnh bình cứu vớt tín đồn

Ma ha nước suối cam lồ phật ban

Tầm trong nam nữ trần gian

Bốn phương cổi lớp viễn tràng muôn năm

Sơn kỳ lựu dấu rán tầm

Tu hành theo giỏi kẽo lầm bớ dân

Di Lặc chừng đó cầm cân

Coi ai là phật ai thần ai tiên

Ai là đúng bực thánh hiền

Xét cho tự toại bạn liền giáp hia

 Thưởng rồi tôi mới đi vào

Dựng đài nguyệt kiến giao rày minh vương

Giáo chủ chừng đó khai trường

Dạy dân dạy võ là đường bát sanh

Dạy rồi luyện tập dành rành

Ba ngôi qui nhất chúng sanh lập đời

Kép nào chừng đó hát chơi

Hát tuồng ái quốc muôn đời khải ca

Hát cho đất nước quê nhà

Hát tuồng đại hội long hoa tới rồi

Cả kêu dân chúng ai ơi

Tôi không nói láo không thời xin xu

Bá gia anh chị rán tu

Ngày sau như có đem xu thưởng liền

Hát thì không bạc không tiền

Đờn rao trống đánh ai hiền vô coi

Hát thì tiền bạc không đòi

Chọn người râu tóc đòi người chơn tu

Thôi thôi nói riếc lu bu

Nói nhiều tu ít mà rù làm chi

Nhắc qua động tánh từ bi

Liều mình nói mãi kể gì tấm thân

Sỏi sành mấy kiếp sỏi sành

Ta nay là hiệu chúng sanh chữ đề

Thương dân chịu cảnh não nề

Dầu bay bắc xác không màng lòng ta

Vì thương bá tánh trẻ già

Sống thì kêu réo thác thì qui thiên

Quyết tâm gieo giống lương hiền

Noi theo lục tổ kế hiền thích ca

Tới đây từ giả bá gia

Dương trần ở lại cảnh ta ta về

Ra đi lòng luống não nề

Bá gia còn ở ta về đâu vui

Rưng rưng nước mắt ngậm ngùi

Chừng nào nước ngược gió xuôi tôi về

Lui chơn cầu chúc bốn bề

Đôm long kết cánh bay về bớ con.

 

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT [ 3 lần ]

 

 

 

 

 

 

Kệ

 

Dậu phật ra đời lựa tôi trung

Gian ninh tận điều thảm vô cùng

Lành thời theo phật mà an hưỡng

Non tiên gió mát quá thung dung

 

 

 

Thơ Tiều Lão

 

Đêm vơi khác lụng canh tàn

Mượng tay xuống bút nói loan ít lời

Cho người xét việc chiều mơi

Thiện nam tín nữ ở đời rán tu

Bây giờ đã hết mùa thu

Qua đông xuân lại nói ru lời này

Đến chừng tiếng sấm nổ vang

Đê mê bất tỉnh ngổn ngang khắp nhà

Người tu có ánh hào quang

ở nơi trên đãnh sáng vàng chiếu ra

Quan Âm Bồ Tát đứng trên

Nhành dương liểu rẩy cho nên tỉnh hồn

Còn kẻ hung dữ bất tồn

Chẳng tu phải chịu xác hồn tiêu tan

Chừng đó ác thú nghinh ngang

Nó bay nó chạy hét vang ghê hồn

Binh âm áp tới dập dồn

Chừng ni thì lại vô môn lánh nàng

Người tu có ánh sáng vàng

Quỷ vương ác thú đi ngang cuối đầu

Cũng là kính nể một chầu

Không làm kinh động có đâu hại mình

Rán tu mà sửa tánh tình

Cho mau kẽo trễ thiên đình sắc ban

Chỉ còn có một thời gian

Phải lo trau sửa nghing ngang rồi đời

Uổng cho cái kiếp làm người

Không lo gieo giống hiền từ bớ dân

Đến chừng sấm nổ mất thân

Long hoa phật lập cũng gần kề bên

Niệm phật rán niệm đừng quên

Chuyên tâm thiện niệm mới nên mỗi ngày

Sớm chiều lễ bái trì chay

Ngày đêm cũng vậy chớ sai phút nào

Tu sửa thì phải rấp rào

Thân tâm khẫu ý thì sao thanh nhàn

Qua năm kỹ tỵ nổ vang

Tháng tư năm ấy mới sang tiếng đời

Đến chừng tháng tuất tháng trâu

Kêu vang ba tiếng có lầu thất sơn

Lắng tai nghe rõ nguồn cơn

Lời ta nói đó keo sơn sửa lòng

Rau cùng bá tánh giáp dòng

Mau mau kẽo trể qua sông khỏi cầu

Ngọc đế chỉ triệu về chầu

Giả từ trần thế long lầu lui chơn

Ngày rằm chầu trước bệ đơn

Mùa đông kỷ tỵ thất sơn dỡ rồi

Nói ra trong dạ bồi hồi

Thế rồi phải nói cho rồi phận ta

Tiều này đệ tử phật gia

Réo kêu trần hạ thiết tha nhiều lời

Chỉ còn mấy tháng lập thân

Trì chay bố thí chuyên cần cho mau

Xác trần còn tiếc nữa sao

Tương dưa giữ dạ cháo rau mỗi ngày

Khuyên trần đừng có cho vay

Giúp đỡ chia chác từ đây cho rồi

Cất nhiều tiền của khó ngồi

Lúa vô đầy bịt mà rồi sạch que

Những lời phật thánh chẳng nghe

Sao không vóc đấp chiếc ghe để rồi

Phải mau vượt biển mà đi

Trai thời sửa tánh nhu mì cho mau

Đầu cổ sửa gọn cho mau

Còn thân phận gái phải trao sủa mình

Giữ tròn phẩm hạnh tiết trinh

Ăn mặc sửa đổi theo in xưa mà

Tỏ ra duyên dáng đàng bà

Lá nem quần nọ áo là bà ba

Đừng có ăn mặc kêu sa

Quần tây áo bó áo hoa bày hình

Gấp gấp mà sủa cho tinh

Đầu quăn môi đỏ mắt xinh dẹp liền

Rán lo trau sửa cần chuyên

Thì là thân xác mới yên sao này

Chẳng mau trau sửa làm vầy

Ất là phải bị cáo cầy xé thây

Nước nam mà mặc kiểu tây

Giống dân mất nết ở đây chẳng xài

Gái thời phải mặc áo dài

Sửa sang đầu cổ mỗi ngày chảy xuông

Bây giờ trai gái hơn muôn

Chừng sau kiểm lại sấp tuồng trăm hai

Ôi thôi trai gái ít thay

Làm sao dựng nghiệp lầu đài Hớn bang

Trai trung gái liệt đảm đang

Gánh gồng việc nước giang sang đấp bồi

Phận mình trung hiếu lo rồi

Ấy là mới được chổ ngồi vinh quang

Rán tu sau đặng làm quan

Chừng ni mới được hiển vang tổ đường

Hôn nay phận lão bày tường

Thiện nam đừng để quỉ vương ru hồn

Tín nữ thì phải cho khôn

Lọt vào tay nó vô môn tẩu đào

Thấy trần trong dạ héo xào

Phải lo trau sửa cho mau lúc này

Để chừng gặp đặng mặt thầy

Ăn năng chẳng kịp lấy cây đập đầu

Chòm ba lủ bảy ngồi rầu

Chừng đó mới chịu quày đầu muốn tu

Bây giờ lão lại cho hay

Thầy về trong cái năm nay rõ ràng

Lão không nói bướn nói càng

Bây giờ lão lại nói lang cho nhiều

Tới đây lão phải đăng trình

Ngọc xin lui gót thiên đình sắc ban

Tái bút dặn bảo sau cùng

Mỗi người coi phải viết tung năm bài

Cho trong bá tánh coi rày

Thì có thần thánh hộ ngay người này

Thêm ghi công đức đủ đầy

Chư thần bảo hộ mỗi ngày bình yên

Đến chừng lập hội hoa liên

Thì là có mặt dự phiên hội này.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bức Thơ Từ Giả

 

Tả đề một bức thơ hồng

Từ ngày mượn xác trần hồng đáo lai

Bút thần mượn xác tỏ bày

Lời châu tiếng ngọc ra tài minh oan

Ngỏ cùng nam nữ trần gian

Ta xin từ giả xóm làng từ đây

Gót hài tách dậm đường mây

Chơn vàng đạp gió lầu tây ta về

Đau lòng giọt lệ tràn trề

Châu rơi lã ch thảm thê cho trần

Từ ngày xa cách am vân

Phần tay thầy tớ muôn phần đắng cay

Thương đời mượn xác tỏ bày

Mến thương trần thế đêm ngày chẳng an

Yêu dân chịu nổi cơ hàn

Đói no hai lẽ chẳng màng chi than

Miễn cho già trẻ bước lần

Qua đường đạo đức chẳng cần thân ta

Kêu trần dụng tiếng bá gia

Réo dân như thể tỳ bà cung tiên

Xuống trần nhằm lúc đão điên

Thấy dân khổ não thãm phiền lòng ta

Bốn phương thế sự cang qua

Nạn dân ách nước cửa nhà tiêu tan

Thấy dân trong dạ nào an

Khai đường đạo đức luận bàn với dân

Cớ sao dân lại chẳng cần

Không lo tu niệm nói lần thả trôi

Dương trần ở bạc như vôi

Lời ta chỉ bảo dân thời bỏ qua

Thương dân chẳng kể thân già

Xuống trần chịu khổ dạy mà chúng dân

Ta đây nào quản tấm thân

Vì thương trần thế lãnh phần giáo khuyên

Mấy năm phổ độ ưu phiền

Lao tâm mệt trí đảo quyền nổi trôi

Leo cây rồi lại qua đồi

Trèo non lặng suối đứng ngồi chẳng an

Thân ta lộn xộn trần gian

Thế trần đâu biết đâu tàn là ai

Giả làm thầy thuốc hôm nay

Ẩn nơi trần thế tỏ bày cho dân

Thôn quê thành thị xa gần

Nào ai có biết xác trần trơ trơ

Trẻ già lớn nhỏ ơ hờ

Hỏi ông thầy thuốc bây giờ ở đâu

Tóc xanh tới lớp bạc đầu

Nữ nam già trẻ ai hầu biết tri

Có đau bệnh tật mới thì

Đến ông thầy thuốc xin mà thuốc than

Hết dân rồi lại tới quan

Hết gần rồi lại xa gần cũng đi

Nghe đồn thầy thuốc tiên tri

Ham linh ham giỏi tới thì xin toa

Cúi xin cứu vớt tôi mà

Chừng tôi hết bệnh tôi mà ăn chay

Hết rồi chẳng thấy đáo lai

Có đâu xin kệ xin bày của ta

Dương trần lời nói quỉ ma

Mép môi khôn dại ta mà gớm ghê

Thôi thôi xảo nguyệt trăm bề

Hơi nào mà kể trở về cho xong

Giả từ nam nữ tây đông

Cùng là già trẻ ở trong cỏi trần

Mấy năm tôi chịu khổ thân

Thương vì thế giới phân trần bấy lâu

Bây giờ trở lại điện đầu

Vào chầu bệ ngọc phép mầu lãnh ban

Xác trần gởi lại trần gian

Chia xa thầy tớ lòng càng quặn đau

Ta nay trở lại thiên tào

Xác ta gởi gấm ở vào dương gian

Bây giờ ta lại tách sang

Qua nơi đông độ đền vàng phật vương

Tỏ bày già trẻ đặng tường

Chừng nào sấm dậy phật đường đáo lai

Ngày nay trở lại non đoài

Tập rèn văn v cho tài tinh thông

Chừng nao sấm nổ hướng đông

Thì trong bổn đạo mới hồng thấy ta

Ngọ mùi thân dậu dâu xa

Hỏi trong bổn đạo rán mà tu tâm

Gìn lòng sắt đá như sam

Chữ tu trao luyện cho ham tánh tình

Cách hành khán kệ xem kinh

Xét tường nghĩa lý bạch minh mà làm

Đạo lành phải để vào tâm

Dặn dò bổn đạo rán cầm trong tay

Dặn cùng già trẻ gái trai

Thiện nam tín nữ ngày ngày chớ quên

Lời ta chỉ bảo đôi bên

Bằng mà sơ xót không nên bớ trần

Ta nay dạy bảo ân cần

Chớ đừng thối chí lựa lần bỏ qua

Đến chừng lập hội long hoa

Kẻo mà bê trể ra ma không còn

Từ đây nhơn vật hao mòn

Ngọ mùi mới biết dân còn bao nhiêu

Cuộc đời như gió mưa chiều

Dương gian chẳng khác như diều trôi sông

Nước tràn ngập hết ruộng đồng

Sơn băng thủy kiệt mà hồng còn chi

Bốn phương giặc giả phủ vây

Trung ương giông bảo gió mây ầm ầm

Ba mươi tháng sáu chẳng lầm

Mùng hai tháng chạp ngày rằm tháng giêng

Thất ngoạt dân chúng ưu phiền

Tam niên xuất thánh phật tiên ra đời

Long hoa là hôi trên trời

Hội cùng tiên phật đến nơi luận bàn

Long hoa là hội minh hoàng

Thái bình dân chúng thế gian đời này

Bình minh là hội bằng nay

Cộng đồng thưởng phạp ngày rày cho dân

Nói cho dặng rõ ân cần

Cũng vì thương thế nên trần tỏ phân

Ngày nay Chúa Tấn Chúa Tần

Nước Đường nước Hớn nhân dân thái bình

Giữa trời đài cát tốt xinh

Bốn phương tựu hội triều đình âu ca

Tỏ tường nam nữ trẻ già

Rán lo tu niệm hưởng mà vinh huê

Minh Vương còn ẩn chưa về

Đến năm thân dậu mới kề đặng ngôi

Cơ trời sắp đặc đã rồi

Bớ trần chậm chậm chớ hồng nôn nao

Bây giờ tâm trí dồi trau

Rèn lòng cho thiện đặng mau trở về

Ngày nay đăng bảng chủ đề

Khoa thi mở hội trở về thành cao

Bây giờ thế sự lao sao

Trần gian rộn rực huyết trào chỉnh ghê

Thây nằm như củi ê hề

Huyết ra như biển bốn bề thành song

Gia cư tan nát hoang đồng

Đồ sư sản vật như rồng giỡn mây

Bốn phương binh tướng dẩy đầy

Kẻ gươm người giáo ra tài tranh đương

Đời này như thể nhà thương

Nhà châu trở lại diệt thương chẳng còn

Khương công còn ở trên non

Văn Vương vũ lý tín tròn bảy năm

Ghét đời ẩn thọ đa dâm

Khiến dân luống chịu mấy năm khốn nàn

Cũng vì tửu sắc đa đoan

Bắc đài cơ phát ngục đàng khổ thân

Đời này trở lại phong thần

Khương Công dựng bản bớ trần hạ ơi

Cuộc đời nay đã thấy rồi

Còn đôi năm nữa hết đời hạ ngươn

Bây giờ ta lại kéo đờn

Lên dây cho thẳng ta đờn bắc nam

Đờn kêu rả núi, núi sam

Đờn kêu ông cấm ai làm rả hai

Đờn kêu sấm nổ núi dài

Đờn kêu ông két đất cày thành sông

Đờn kêu vợ lại xa chồng

Đờn kêu mẹ lại quên bồng con thơ

Đờn kêu sắp đến bây giờ

Đờn kêu đời tới rán thời chữ tu

Đờn kêu khóc lóc hu hu

Đờn kêu những kẻ dỏng dù còn chi

Đờn kêu đổ lụy lâm ly

Đờn kêu cô bác chú dì, khóc than

Đờn kêu phú quí vinh vang

Đờn kêu mấy kẻ lòng tà rả tiêu

Đờn kêu tuy ít biết nhiều

Đờn kêu thầy chú đố điều phương phi

Đờn kêu son phấn ai bi

Đờn kêu tan rả còn gì ông ơi

Đờn kêu như nước bèo trôi

Đờn kêu thế sự đứng ngồi không an

Đờn kêu gió thổi mây tan

Đờn kêu giông bảo nước tràn lên cao

Đờn kêu thế sự lao xao

Đờn kêu giặc giả binh đao tới hoài

Đờn kêu khắp hết gái trai

Đờn kêu non nước ngày nay bớ trần

Đờn kêu hối thúc nhân dân

Đờn kêu khổ não tới gần một bên

Đờn kêu phải gắn chí bền

Đờn kêu nam nữ không êm bớ người

Đờn kêu chớ có dễ ngươi

Đờn kêu thế sự như rơi phím đờn

Đờn kêu non nước thất sơn

Đờn kêu ông cấm tà lơn lố bày

Đờn kêu phụng múa rồng bay

Đờn kêu hát gáy bồng lai non bồng

Đờn kêu gánh ngự hương nồng

Đờn kêu tiên thánh cứu giồng chúng sanh

Đờn kêu đệ tử lòng lành

Đờn kêu thương mến lòng lành rước lên

Đờn kêu kẻ dưới người trên

Đờn kêu luân chuyển hư nên thiên hoàng

Đờn kêu dân giả đến quan

Đờn kêu thầy tới hai đàng chuyển luân

Đờn kêu máy tạo không ngừng

Đờn kêu kim cổ nữa mừng nữa lo

Đờn kêu mấy thuở có đò

Đờn kêu rước khách hởi trò tới ơi

Đờn kêu thế cuộc đổ dời

Đờn kêu lê thứ tỉnh hồi mà coi

Đờn kêu như thể cây còi

Đờn kêu lá rụng lố mòi bông rơi

Đờn kêu cá nước chim trời

Đờn kêu biển cạn cá thời ao khô

Đờn kêu chim ở lòng mô

Đờn kêu trần thế như mồ bỏ hoang

Đờn kêu hố líu hò khoan

Đờn kêu lầm kế của quan Tư Đồ

Đờn kêu lữ bố tài mô

Đờn kêu mắc phải Tư Đồ thác oan

Đờn kêu đổng trác là chàng

Đờn kêu Điêu Thị hại chàng mạng vong

Đờn kêu lầm kế trương tòng

Đờn kêu Tào Tháo bỏ lòng binh thơ

Đờn kêu tào tháo bơ thờ

Đờn kêu mắc kế binh thơ đốt liền

Đờn kêu ngồi đứng không yên

Đờn kêu như thể đứt liền thịt xương

Đờn kêu than thở vô phương

Đờn kêu hết thế tìm đường đi đâu

Đờn kêu nhiều nổi thảm sầu

Đờn kêu núi cấn hóa lầu Thánh Vương

Đờn kêu kẻ mến người thương

Đờn kêu tôi chúa hai đường xa nhau

Đờn kêu dạ xót tâm bào

Đờn kêu thương nhớ chừng nào cho nguôi

Đờn kêu những kẻ ngược xuôi

Đờn kêu rỉ rả ngậm ngùi thương dân

Đờn kêu kẻ sở người tần

Đờn kêu non nước xa gần đợi trông

Đờn kêu ta lại đau lòng

Đờn kêu âu á thây nằm bằng non

Đờn kêu huyết đỏ như son

Đờn kêu nhân vật chỉ còn một hai

Đờn kêu những nổi đắng cay

Đờn kêu chanh khế ngậm ngùi chát chua

Đờn kêu dê ngựa chạy đua

Đờn kêu gà khỉ đến mùa thanh xuân

Đờn kêu kìa hội long vân

Đờn kêu qua hội quân thần âu ca

Đờn ca chẳng có ở xa

Đờn kêu giông bảo ở mà một bên

Đờn kêu sấm nổ nghe rền

Đờn kêu nam, bắc lầu đài tan hoang

Đờn kêu hè mãn thu sang

Đờn kêu xuân đến đông tàn biết nhau

Đờn kêu mặc áo hồng bào

Đờn kêu quần tía áo màu năm châu

Đờn kêu xuân đến lo âu

Đờn kêu ăn tết thãm sầu lê dân

Đờn kêu những kẻ hiền nhân

Đờn kêu quân tử lựa là làm chi

Đờn kêu dục thúc ai bi

Đờn kêu nấu sử vậy thì soi kinh

Đờn kêu lúc nhục lúc vinh

Đờn kêu bỉ thới nhân tình xưa nay

Đờn kêu trời đất đổi thay

Đờn kêu trước nhục sau này mới vinh

Đờn kêu nhựt nguyệt thinh thinh

Đờn kêu soi tỏ nhân tình đâu sai

Đờn kêu nước chạy mây bay

Đờn kêu cuộc thế đổi thay chắc rằng

Đờn kêu thấu đến cung trăng

Đờn kêu mây án cô hằng mất tinh

Đờn kêu mặt nguyệt bình minh

Đờn kêu lố thấy lộ hình Minh Châu

Đờn kêu ta lại thãm sầu

Đờn kêu Phật Tổ điện đầu cho ta

Đờn này của Phật Thíc Ca

Cho ta đặng khải khuyên mà chúng sanh

Đờn kêu nhiều nổi long lanh

Đờn kêu bớ thế không tầm nẽo tu

Đờn kêu nhiều kẻ công phu

Gắng công tu niệm công phu cho thường

Thôi đờn ta lại ghét thương

Thương cho thế sự tan thương chẳng còn

Thương cho trần thế thon don

Thương cho nhân vật hao mòn còn hai

Thương là thương đứng sỉ tài

Thương người bần sỉ chịu đàng thảm thương

Thương là thương kẻ hiền lương

Thương người Nhơn Quí đoạn trường tấm thân

Thương đời của Lý Thế Vân

Bị người ngươn kiệt ngôi thần chẳng yên

Đương trào lộn xạo đão điên

Thương ông Lý Trị chẳng yên ngôi mà

Thương ông Gia Cát tài ba

Gặp cơn Hớn mạt chịu đành khoanh tay

Thương ông Huyền Đức thảm thay

Đài ra hà bắc đắng cay muôn phần

Thương là thương đấng trung thần

Quan Công thất thủ qua mà tầm huynh

Thương ông Từ Thứ quên mình

Sang tàu chuộc mẹ thương tình hiếu nhi

Thương là thương tướng Trương Phi

Trung can nghĩa khí ai bì đặng đâu

Thương thân trung nghĩa Quan Châu

Phò vua đến thác dạ phò Hớn Vương

Thương đời Thúc Bá nhà thương

Bị vua vô đạo tầm đường lên non

Tử sanh giữ dạ cho tròn

Không thương đến trụ không còn mến châu

Thương ông Khương Tử ngồi câu

Câu thời câu vận công hầu mới an

Thương đời Nghiêu Thuấn đa đoan

Tấm thân vất vả cơ hàn đáng thương

Thương là nghĩa khí đạo vương

Thương Trần Quốc Tuấn đường đường trung can

Máu đào nhuộm bạch đằng giang

Dốc lòng phục quốc nước nhà việt nam

Thương người có chí có tâm

Dựng nên cơ nghiệp muôn năm lâu dài

Thương đời Hàn Tín đắng cay

Lòn chôn giữa chợ thân này gian nan

Thương đời Thái Tổ lầm than

Bị tên phiên quốc giấy loàn mấy năm

Hết thương tới ghét vô tâm

Ghét đời kiệt trụ mê dâm lăng loàn

Ghét là ghét giống họ bàng

Bàng hồng tôn tú tham vàng quên vua

Ghét đời sỉ quý nịnh lùa

Yểm tài họ tiết quê mùa hàng vi

Ghét là ghét đứa quí phi

Thư thông ngoại quốc kể gì đế vương

Ghét là ghé đứa vô lương

Trịnh hâm bùi kiệm tầm đường hại tiên

Ghét đời đông thị liên miên

Đooạt ngôi giết chúa đão huyền lê dân

Ghét là ghét kẻ nịnh thần

Là người hàng phụng giết lầm Nam Vương

Ghét là ghét kẻ nhà thương

Vua thì vô đạo Văn Vương bị đày

Ghét đời vỏ thị thày lai

Đem tình đổ oán ham rày vinh hoa

Ghét sau cho hết trăm bề

Thôi thôi ta phải trở về cho mau

Luận bàn lời lẻ thấp cao

Dặn dò bổn đạo đừng sao tấm lòng

Chừng nào chợ lớn hết đông

Thì là mới biết ruộng đồng ra sao

Cỏ cây lá rủ héo xào

Bông tàn lá đổ chừng nào cho nguôi

Chừng nào nước ngược chảy xuôi

Rong chìm đá nổi mới nguôi tấm lòng

Chừng nào khỉ dởn non bồng

Dê nằm dưới suối gà đồng gáy đua

Giả từ bổn đạo chác chua

Lưởi tê môi tái đến mùa thu sang

Thầy trò chia rẻ đôi đàng

Thầy phân đủ cách đoạn tràng bới ai

Kiếu từ già trẻ gái trai

Ở nơi trần thế hôm nay tu trì

Mấy lời ta dặng phải ghi

Gắng công tu niệm mới thì thấy ta

Dặn dò kỹ lưỡng trẻ già

Tới đây tuyệt bút ta đà lui chơn

 

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT { 3 LẦN }

 

 

 

Nam Mô Bổn Sư Thíc Ca Mâu Ni Phật

Thảy Đồng Chứng Chiếu

 

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT { 3 LẦN }

 

Sài gòn quạnh hiu, bạc liêu tiệc góc

Châu đốc dở dang, tân an không Chủ

Chợ thủ vắng người, tháng chín ba mươi

Có thuyền bát nhã, đậu tại long châu

Bến tre thảm sầu, mỹ tho hữu phước

Trà vinh khóc mướt, lớn nhỏ lao xao

Rán chạy cho mau, vô chùa mà chốn

Cần thơ hết vốn, hết gạo hết tiền

Tại tỉnh long xuyên, ghe thuyền không bến

Nhà giàu nhà có, chẳng có cơm ăn

Tại tỉnh sóc trăng, sóng thần nổi dậy

Ruộng không người cấy, nhà cửa quạnh hiu

Ruột thắt chín chiều, con kêu cha mẹ

Nối qua gạch giá, tỉnh ấy bắt quàn

Nhưng mà bình tỉnh, mới khỏi đao binh

Tôi muốn làm thinh, không thèm nói nữa

Thủ dầu bị lửa, bến cát tan hoang

Nước tràn nổi dậy, mấy cô còn nhỏ

Mấy cậu thanh niên, đừng nói tôi điên

Đừng cười tôi dạy, bầy dê đang chạy

Khỉ ngảy vô rừng, trước mặt đám đưng

Sau lưng đám cát, chợ quán hết đông

Mặc ông xế chiều, gò công tiêu nát

Thị thành sơ rơ, mấy cậu còn thơ

Mấy cô thiếu nữ, đừng ham hung dữ

Thú hùm không kiên, ở tỉnh hà tiên

Tỉnh ấy nước lục, trâu bò lúc nhúc

Lu máy lều bều, nước hẹ nước tiều

Quản đông phước kiến, la ó nhiều tiếng

Lăng líu khó nghe, chị nào biết tu

Lúc này mới khỏe, chừng nào chó đẻ

Mới tới việc này, chẳng có láo ai

Có tu mới khỏi, chừng đó tơi bời

Hết kêu đất trời, sao không sét hỏi

Qua nơi sa đéc, tỉnh ấy hết sang

Thành lũy xóm làng, nhân dân cùng khổ

Nam vang bom nổ, chùa chợ chẳng còn

Còn chỉ tiêu mòn, khoét lổ khoét hang

Tam gà đổ bộ, chín chổ quản đường

Chợ lớn bi thương, còn chừng phân nữa

Coi nghe rằng dữ, tu hiền sống xót

Để mà coi đời

 

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT { 3 LẦN }

 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tri lai bửu tích

Dưới bóng cọi tùng